Trong Sắc lệnh ký ngày
14-9-2012 và được Phòng Báo Chí Tòa Thánh phổ biến hôm 5-10-2012, Tòa Ân Giải
nhắc lại chủ đích của ĐTC khi ấn định Năm Đức Tin nhân dịp kỷ niệm 50 năm khai
mạc Công đồng chung Vatican 2 là để mời gọi Dân Chúa và các GM toàn thế giới,
hiệp với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, tưởng niệm Hồng ân đức tin quí giá trong thời
kỳ ân phúc Chúa ban cho chúng ta (Porta fidei, n. 8), để tất cả các tín hữu
được cơ hội tuyên xưng niềm tin nơi Chúa Phục Sinh[1]..
Kho tàng ơn
Thánh mở ra, mỗi tín hữu phải hành động thế nào nếu không phải là biến đức tin
thành hành động? Vì “ĐỨC TIN KHÔNG VIỆC LÀM LÀ ĐỨC TIN CHẾT
” !
Vâng! “Năm đức tin” là dịp thuận tiện
để giúp tín hữu nhìn lại chính bản thân mình cách rõ ràng hơn, đồng thời cùng là
năm ân sủng giúp các tín hữu hăng say trong cầu nguyện, chay tịnh và làm phúc bố
thí. Không ngừng rao giảng Lời Chúa bằng chính hành động đức tin, vì như Thánh
Gia-cô-bê tông đồ đã quả quyết: “Đức tin không việc làm là đức tin chết”(Gc
2,17). Người viết không ao ước đưa ra
nhiều tiêu chí và việc làm như trong bài viết “Ta sẽ làm gì trong Năm Đức Tin Công Giáo 2012 – 2013”[2]
mà tác giả Linh mục Vinh Sơn Trần Văn Hoà đưa ra. Chỉ
xin nêu lên đây một vài điểm mà thiết nghĩ qua đó, người đọc có thể quy chiếu đời
sống đức tin của mình bây lâu nay mà thay đổi cho xứng hợp hơn với đòi hỏi của
Tin Mừng, để trong năm đức tin họ gặt hái được nhiều ơn lành của Thiên Chúa ban
qua Giáo Hội.
Chúng ta tin ở một Thiên Chúa quan phòng và
là Cha nhân từ. Tin Thiên Chúa tối cao là Đấng sáng tạo muôn vật, muôn loài và
vũ trụ này, trong đó có con người. Niềm tin ấy có được thể hiện qua cuộc sống
tin tưởng, lạc quan, phó thác hân hoan ngay cả khi chúng ta gặp gian nan thử
thách không? Chúng ta là tín hữu của Đấng đã sống và chết cho tha nhân, đã yêu
thương con người cho đến chết và chết trên thập giá. Niềm tin ấy có được thể
hiện qua những việc làm cụ thể bằng yêu thương, quảng đại, quên mình và tha thứ
không? Chúng ta tin vào sự sống đời sau và vĩnh cửu, hưởng hạnh phúc bên nhan thánh
Chúa. Niềm tin ấy có được thể hiện bằng những hy sinh, phấn đấu ngay từ cuộc
sống này để chiếm hữu được nó không? Cuộc sống mỗi ngày với những độc điệu
phiền toái và thử thách của nó chính là nơi để chúng ta sống cụ thể niềm tin
của mình. Những mối tương quan hằng ngày với những người chung quanh chính là
môi trường để chúng ta diễn đạt niềm tin ấy. Nhưng cách thức mà chúng ta diễn
đạt niềm tin đó là thế nào? Chắc mọi tín hữu đều phải trở về với cõi lòng mình,
lấy Tin Mừng cũng như giáo lý Giáo Hội mà mình được thụ huấn để soi vào vào
cuộc sống mình và tự trả lời trước mặt Chúa xem.
Quả thực, niềm tin mà trong Thánh Lễ Chúa
Nhật hàng tuần, vào các ngày lễ trọng hay giờ kinh sáng –tối hàng ngày ta vẫn
hằng tuyên xưng khi đọc Kinh Tin Kính một cách sốt sắng đó sẽ là gì nếu chúng
ta không tiếp nối cho lời kinh ấy bằng hành động sống cụ thể? Thế giới sẽ thế
nào, nhân loại sẽ phản ứng ra sao khi người tín hữu chỉ là những con người chỉ
biết cất cao lời kinh và thầm thì cầu nguyện trong nguyện đường mà chẳng hề dám
bày tỏ niềm tin ấy bằng chính hành động sống? Mỗi tín hữu đã thực sự tuyên xưng
và xác tín cách mạnh mẽ vào các mầu nhiệm mà trên môi miệng mình đọc mỗi ngày,
hay chỉ là một đức tin theo truyền thống mà thiếu đi bản chất của lòng mến? Đâu
rồi trong Giáo Hội một thời với tầng tầng lớp lớp anh hùng tử đạo? Đâu rồi
những thời khắc chói ngời vinh quang của Giáo Hội với bao vị Thánh dù đầu rơi,
dù máu chảy. Và đâu những Thánh nhân hy sinh sức khỏe, tài năng, trí tuệ và
mạng sống mình để tận tụy phục vụ bệnh nhân, phong cùi, người tàn phế, cô thế
cô thân? Chẳng nhẽ, Giáo Hội không còn những chứng nhân kiên cường trong đức
tin?
Lệnh truyền của Thầy Chí Thánh năm xưa vẫn
còn vang vọng trong tâm hồn mỗi tín hữu: “Hãy làm cho muôn dân trở thành môn
đệ”(Mt 28,19), và “ hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương”(Ga 13,34;
15, 12).
Vậy phải làm sao để biến trái đất này trở
thành một tổ ấm chung cho tất cả mọi người, làm sao để quy tụ mọi người vào
trong đại gia đình Hội Thánh? Và nối kết trái tim nhân loại làm một, để trong
đại gia đình đó, ai cũng sống giới răn yêu thương mà Thầy Chí Thánh đã truyền
dạy trước khi Ngài trở về với Thiên Chúa Cha? Đó là trách nhiệm và bổn phận
không riêng một ai, nhưng chung cho hết mọi tín hữu đã lãnh nhận Phép Thánh
Tẩy.
Thiết nghĩ, trước những đòi hỏi của Tin Mừng và sứ mạng mà mọi tín hữu
đã đón nhận thì việc sám hối sửa mình, ăn chay cầu nguyện và làm phúc bố thí
chính là điểm nòng cốt nhất của kitô hữu trong việc sống làm chứng cho Tin
Mừng. Nhất là trong năm sống đức tin này, việc thực hành đức tin được xem là
nòng cốt, là kim chỉ nam cho mọi quy chiếu trong đức tin.
Nếu như cái đẹp nhất, thiêng liêng nhất và cao quý nhất trong trái tim
và tâm hồn người công giáo là Thiên Chúa – đối tượng duy nhất của lòng trí
người tín hữu, thì khía cạnh thứ hai không kém phần quan trọng, đó chính là
giới răn yêu thương. “Anh em hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương
anh em”(Ga 15,12). Cả hai giới răn: “Mến Chúa” và “Yêu người” là hai giới răn
quan trọng nhất, cao quý nhất. Chúng ta không thể chỉ nói tôi yêu mến Chúa mà
lại không yêu thương tha nhân là hình ảnh và cũng là anh chị em của chúng ta
trước mặt Thiên Chúa là người Cha chung của tất cả mọi người. Đến ngày phán xét
chung, Chúa đâu có đòi hỏi chúng ta có bằng cấp này, học vị kia hay tài năng
nọ? Chúa chỉ hỏi ta về việc bác ái đối với tha nhân, đối với anh em đồng loại
đấy thôi.
Lời Chúa là chân lý và là ánh sáng soi dẫn bước đường người tín hữu mỗi
ngày trên hành trình đức tin của mình. Sách Công vụ Tông Đồ đã ghi lại: “Cho
thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20, 35). Đây không chỉ đơn thuần là một lời khuyên
đạo đức, hay chỉ là một lệnh truyền đến với chúng ta từ bên ngoài. Đòi hỏi và
nhu cầu trao ban là một khuynh hướng sẵn có trong sâu thẳm tâm hồn con người và
chỉ khi con người chúng ta sẵn sàng trao ban chính mình cho kẻ khác, chỉ khi đó
chúng ta mới có thể đạt tới sự thành toàn. Đứng trước những vấn nạn trong xã
hội, trước cảnh đói nghèo, bệnh hoạn, đau thương tàn tật của nhân loại đó đây,
trong năm đức tin này. Thiên Chúa muốn mời gọi chúng ta lột bỏ con người cũ của
mình và tiến bước theo Ngài trên hành trình mới. Đọc lại sách ngôn sứ Isaia ta
thấy chính Thiên Chúa rất yêu thích việc làm bác ái, Ngài coi trọng việc bác ái
còn hơn việc trai tịnh (Is 58, 1 -12); Còn đối chiếu với Tin Mừng Lu-ca ta thấy:
Chúa đến với những người tội lỗi để giúp họ ăn năn sám hối (Lc 5, 27 -32). Đặc
biệt, trong tình liên đới với tha nhân thì Thiên Chúa còn chỉ rõ cho những
người tiến dâng lễ vật nhưng trong lòng mình hãy còn bất hòa, Ngài đã phán: “Ta
muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ vật”(Mt 9, 13; 12, 7); “hãy bỏ lễ vật đó về làm
hòa với tha nhân trước rồi đến dâng lễ vật” (Mt 5,20-26).
Thật khủng khiếp, ngày hôm nay chúng ta lại chứng kiến sự đổ vỡ và
xuống dốc trong tình liên đới giữa con người với nhau. Chính cuộc sống vì đồng
tiền và vụ lợi đã cuốn hút con người đi vào trong vòng xoáy luẩn quẩn và chạy
đua với lợi lộc vật chất mà quên đi căn tính và nhân phẩm của mình. Chủ nghĩa
cá nhân ích kỷ đã thống trị gần như toàn bộ xã hội loài người. Thêm vào đó kinh
tế toàn cầu hóa đã thúc đẩy xã hội mọi nơi tha hồ du nhập lối tư tưởng tự do
khoái lạc, hưởng thụ. Mặt khác, chủ thuyết tương đối đã làm mất cân bằng trạng
thái tâm lý cũng như bào mòn tư chất con người. Chưa bao giờ chúng ta chứng
kiến được sự phát triển đến chóng mặt các thành tựu khoa học kỷ thuật cùng
những hệ lụy kèm theo của kinh tế, chính trị, quân sự như trong thời đại chúng
ta bây giờ. Đáng lý ra nếu theo lẽ thường tình thì sự phát triển của khoa học
kỷ thuật và công nghệ đưa đến những thành tựu lớn lao như vậy thì nó phải giúp
cho con người chúng ta ngày nay có được cuộc sống sung túc và đầy đủ, không còn
phải chứng kiến cảnh người nghèo đói chết lả đó đây. Thật là một nghịch lý,
nhân loại càng tiến xa trên con đường chinh phục tự nhiên và thống lãnh tri
thức, trí tuệ, đưa công nghệ phục vụ cho con người bằng muôn vàn cách thế thì
đáng lý ra nó có thể khỏa lấp đi phần nào ranh giới phân biệt giữa người giàu
và người nghèo, đàng này ta lại chứng kiến cảnh ngược lại một cách trớ trêu. Người
giàu thì tiếp tục giàu và giàu lên không ngừng, còn người nghèo thì vẫn cứ
nghèo và càng thêm nghèo hơn...
Theo thống kê của tổ chức nông lương quốc tế của Liên Hiệp Quốc (FAO), người ta đã tính được mỗi ngày có đến 25 000 người chết đói, và hàng năm có đến 15 triệu trẻ em phải chết vì đói do thiếu dinh dưỡng. Như vậy thì cứ mỗi ngày có đến 40 ngàn trẻ em phải từ giả cõi đời mà không phải vì bất cứ căn bệnh nào mà hoàn toàn do cái đói đã cướp đi tính mạng. Ngay trên đất nước Mỹ, một quốc gia hùng cường mà người ta còn thấy được là hàng năm vẫn còn rất nhiều người chết vì đói...trong khi đó hơn 80% người Mỹ hằng ngày phải đưa thức ăn dư thừa ra bãi rác[3].
Có nhiều nguyên nhân đưa đến cái nghèo đói: Có thể là những nguyên nhân nằm trong chính sách kinh tế, chính trị, xã hội ... phần lớn là sự đối xử lệch lạc giữa các quốc gia lớn, giàu có áp đặt lên những quốc gia nhỏ bé kém phát triển như việc cấm vận, ... Hay ngay trong từng quốc gia việc điều chỉnh và chính sách kinh tế không phù hợp đã đẩy đưa xã hội lún sâu trong tình trạng nghèo đói gia tăng... Tuy nhiên, xét cho cùng thì nguyên nhân sâu xa nhất hệ tại ở trong chính bản thân con người, đó là do sự ích kỷ hẹp hòi, thiếu quan tâm đến người khác. Vị kỷ hơn vị tha, con người sẵn sàng nhắm mắt trước những khổ đau của người khác, vì biết rằng họ không hề có liên hệ gì đến mình. Dụ ngôn “người Sa-ma-ri nhân hậu trong Tin Mừng Lu-ca (Lc 10,29-37) như một bài học thức tỉnh và răn dạy chúng ta.
Người ta ước tính, nếu như chỉ cần 1/10 những nhà tỷ phú giàu có trên thế giới chia sẻ một phần của cải của mình cho những người nghèo thì sẽ không còn một ai phải chết vì đói. Nếu mỗi quốc gia thay vì dùng tiền mua bong đạn, súng ống và các loại vũ khí mà mua lấy lương thực, thuốc men chu cấp cho người nghèo khổ thì cái bóng chết chóc do đói nghèo sẽ không còn tồn tại trên quốc gia họ nữa. Chúng ta thấy có nhiều nơi cuộc sống quá dư thừa, người ta phung phí thức ăn dư thừa cách thoải mái nhưng cũng không thiếu những nơi trẻ em phải chết đói chết lã trên những bãi hố rác. Có những nơi con người tha hồ thỏa thích vui chơi trong những biệt thự sang trọng, ném tiền vào những trò chơi bất chính, đàng điếm, chích hút, cờ bạc, rượu chè say sưa... nhưng cũng không thiếu những cảnh đó đây những bệnh nhân đang phải quằn quại đơn đau, vật lộn chờ chết chỉ vì không có đủ tiền để chạy chữa bệnh tật... Ta hãy tự đặt câu hỏi: "Con người thực sự không biết đến chia sẻ hay là không muốn chia sẻ?"; Thái độ dửng dưng trước cảnh đói nghèo không phải là hiếm thấy, đôi khi chỉ với những đồng tiền lẻ trong túi của chúng ta cũng có thể nuôi sống một ai đó trong cảnh đói nghèo[4]?
Sống trong một xã hội và thế giới như thế, người tín hữu cần nổ lực hơn
bao giờ hết, là sống chứng tá cho Tin Mừng. Đặc biệt trong năm “Sống Đức Tin”
này, tinh thần bác ái kitô giáo là một trong những cách thế tốt nhất để thể
hiện lời chứng của mình. Thánh Phaolô khẳng định răng: “bác ái đó là mối giây
liên kết tuyệt hảo” trổi vượt trên mọi đức tính (x. Cl3,14) và Ngài khuyên nhủ
chúng ta hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành, vì “lòng bác ái thì
không được giả hình, giả bộ” (Rm 12,9). Bác ái ngay trong tư tưởng, trong lời
ăn tiếng nói và nơi cung cách hành xử của chúng ta hằng ngày. Có rất nhiều
người sống đời sống đạo mới chỉ dừng lại ở điểm bề ngoài: Đọc kinh cầu nguyện
lâu giờ; ăn chay nhiều ngày trong tuần nhưng môi miệng họ thì vẫn luôn chất
chứa những điều tục tĩu và sẵn sàng nguyền rủa bất cứ ai đụng chạm tới mình. Cũng
có nhiều người sẵn sàng rút tiền túi để bố thí cho kẻ khó nhưng ở ngoài chợ thì
vẫn buôn gian bán lận … tất cả những thứ họ làm là vì ai? Chúa có mong muốn
điều đó chăng? Có lẽ điều Chúa đòi hỏi mỗi chúng ta là biết chia sẽ và trao ban
cho kẻ khác như chính Đức Kitô đã trao ban cho chúng ta.
Hãy nhìn vào cõi lòng mình xem, trong lồng ngực của mỗi chúng ta, ai
cũng có một trái tim phải không? Đáng lý ra, mọi trái tim phải có chức năng
giống nhau là khả năng để yêu thương và trao ban. Trái tim chính là một thứ quà
tặng vô giá Thiên Chúa muốn dành cho ta để chúng ta biết dùng nó mà sống yêu
thương sẻ chia, đồng cảm và nâng đỡ nhau trong cuộc sống. Trái tim nó không
phải là món hàng để mua bán hay trao đổi mà phải là món quà dành để trao tặng
nhau. “Một trái tim không biết trao tặng là một trái tim chết; Một trái tim không
còn biết rung động trước những khổ đau, hoạn nạn của kẻ khác là một trái tim
khô cằn sắt đá”[5]
và đáng vứt đi. Người nào có trái tim sắt đá, khô cứng và vô tâm trước những
khổ đau của đồng loại thiết tưởng họ chẳng khác nào một cây dương xỉ khô héo
giữa một sa mạc nóng ra bao la cát mà thôi. Còn nếu là một con người, chỉ với
một trái tim yêu thương cớ sao chúng ta không dùng chính trái tim là món quà
quý giá nhất của tạo hóa để rồi chúng ta trao tặng nhau những niềm vui cuộc
sống?
Tuy cuộc sống còn thì sự đói nghèo trong nhân loại
không thể nào mất đi, nhưng đối với chúng ta và đối với cả nhân loại đều nhận
thấy được là cái đói về thể lý chỉ là một phần nhỏ đáng sợ cho cuộc sống chúng
ta, mà chính cái đói về tình yêu thương giữa con người cái đó mới khủng khiếp.
Cái đói lớn lao nhất, đáng lưu tâm nhất đó chính là cái đói về sự thật "CHÂN”
cái đói về tình người, tình nhân ái yêu thương, khoan dung, độ lượng… “THIỆN”;
cái đói về nghĩa cử đẹp trong cung cách đối nhân xử thế, trong cách ăn nết ở,
trong hoạt động nghệ thuật… “MỸ". Cái đói dai dẳng và đeo đuổi con người
đến muôn thế hệ, đó lại chính là cái đói về tình yêu giữa đồng loại với nhau.
Một khi đói khát tình yêu thương giữa nhân loại không còn nữa thì mọi cái đói kèm
sau đó ắt sẽ được giải quyết. Một lần nữa chúng ta lặp lại lời mà sách công vụ
tông đồ đã nói: “Cho thì có phúc hơn là nhận”(Cv 20,35). Chúng ta hãy trao ban,
hãy cho đi không chỉ của cải vật chất, mà cho đi cả những gì chúng ta có như là
kiến thức, tài năng, khả năng yêu thương, hay ngay chính cả bản thân chúng ta
và xa hơn nữa là cho đi ánh sáng Tin Mừng Cứu Độ mà Thiên Chúa đã trao phó cho
mỗi chúng ta khi chúng ta lãnh nhận Phép Thánh Tẩy. Để rồi Thiên Chúa là Cha
chung nhân hậu, Đấng thấu suốt mọi nơi bí ẩn sẽ trả công cho chúng ta cách xứng
đáng nhất.
Để thực sự sống chứng nhân đức tin cách chân thực nhất thiết tưởng, xin
mọi người tín hữu hãy tự xét lại bản thân mình xem, mình đã thực sự sống đúng
đức tin mà chúng ta đã nhận lãnh nơi Chúa qua Giáo Hội hay chưa? Bởi một lẽ
rằng: Khi nói về đức tin, người Kitô hữu nào cũng đều tưởng rằng mình có đức
tin. Nhưng trong thực tế, chỉ cần trải qua một vài thử thách nho nhỏ là có thể kiểm
chứng được mình có đức tin thật sự hay không? Thông thường, bất cứ một Kitô hữu
nào cũng tuyên xưng cách mạnh mẽ vào sự quan phòng đầy tình yêu và quyền năng
của Thiên Chúa, thậm chí rao giảng rất hùng hồn về niềm tin ấy. Chính vì tuyên
xưng và rao giảng như thế, ta cứ ngỡ rằng mình có một đức tin rất vững vàng vào
Chúa quan phòng. Nhưng khi tình yêu hay lương tâm ta đòi buộc phải hành động,
phải hy sinh, phải chấp nhận nguy hiểm, hay khi gặp những giông tố của cuộc
đời, bấy giờ ta mới thấy ta lo sợ đủ thứ và hành động y hệt như những kẻ không có
niềm tin. Đó là dấu chỉ chứng tỏ ta không dám phó thác vận mệnh của mình trong
tay Thiên Chúa, mặc cho Ngài lèo lái cuộc đời ta. Một khi biết chấp nhận mọi
thử thách như là thập giá Chúa trao, biết sống bằng chính sự phó thác và cậy
trong tuyệt đối, thì dù gặp bất cứ hoàn cảnh nào ta cũng cảm thấy được sự bình
an đích thực trong tâm hồn. Nếu không có những thử thách, khó khăn trong cuộc
sống, người có đức tin và người không có đức tin chẳng khác nhau bao nhiêu.
Nhưng chính trong những thử thách, giống tố của cuộc đời, người có đức tin đích
thực sẽ chứng tỏ được đức tin của mình. Mặt khác, đứng trước những đòi hỏi của
Tin Mừng như việc làm bác ái, người tín hữu có niềm tin mạnh mẽ cũng sẽ hành
động cách mau lẹ và không chối từ trước những khổ đau của người khác.
Thiết nghĩ, nếu thế giới chúng ta đang sống không có những người biết
quên mình vì người khác, không có ai giúp đỡ và hy sinh cho ai thì đó là một
thế giới của sự chết chóc, buồn thảm và vô vị. Một thế giới không có những bàn
tay đưa ra để chia sẻ, đỡ nâng, thiếu đi những tấm lòng nhân hậu, vị tha thì
quả thực thế giới đó đáng bị nguyền rủa và hủy hoại đi. Nhưng tất cả chúng ta
cùng chung sống trong một ngôi nhà chung là thế giới, với trái đất có sự sống
mãnh liệt. Chúng ta ai cũng có thể làm một điều gì đó để nâng đỡ đồng loại.
Không có tiền của, bạc vàng thì ta chia sớt cho người khác chút ít thời gian,
nụ cười, bát nước, câu chuyện, lời động viên, lời nhắc nhỡ hay một kinh nguyện.
Không ai trong chúng ta nghèo đến nỗi không có một cái gì để cho.
Ước gì trong năm sống đức tin này, mọi con cái trong đại gia đình Hội
Thánh biết thật tình sám hối, tỏ lòng bao dung với tất cả mọi người. Sẵn sàng
ra tay làm phúc với bất cứ nhu cầu thiếu thốn của tha nhân. Đồng thời biết hành
động bằng tình yêu thương như chính Chúa Giêsu đã hiến mình vì Hội Thánh. Của
lễ hy sinh đẹp lòng Thiên Chúa đó chính là biết trao ban cho tha nhân “dù chỉ
một bát nước lã”, một nụ cười, một lời khuyên, một ánh mắt nhân từ…nhưng tất cả
hành động vì vinh danh Chúa và vì Tin mừng.
Hương rừng
ĐCV VINH THANH 09/ 10/ 2012
[1] http://giaophanvinh.org,
Ơn toàn xá cho các tín hữu trong Năm Đức
Tin, Ngày 09/10/2012
[2] www.vietcatholic.net/News/Html/100138.htm 20/09/ 2012
[4]
Xem, Lm Nguyễn Quy Thiện, Hành trình vào
đời, Nxb Thời Luận. Los Angeles 1996, trang 219
[5]
Lm Nguyễn Quy Thiện, sđd, trang 263.